Thông tin về các kết luận mới của luận án NCS Ngô Huy Tú

THÔNG TIN VỀ CÁC KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Đặc điểm dịch tễ, yếu tố nguy cơ và các biện pháp chống dịch bệnh bạch hầu khu vực miền Bắc, 2023-2024.

Chuyên ngành:  Dịch tễ học.                       Mã số: 9 72 01 17

Họ và tên nghiên cứu sinh: Ngô Huy Tú.     Khóa đào tạo: NCS Khoá 40

Họ và tên người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Nguyễn Trần Hiển

2.TS. Ngũ Duy Nghĩa

Cơ sở đào tạo: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Tóm tắt những kết luận mới của luận án:

  1. Nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm dịch tễ bệnh bạch hầu tại khu vực miền Bắc năm 2023-2024 sau rất nhiều năm không ghi nhận dịch bệnh tại khu vực này; bệnh bạch hầu ghi nhận tại 7 tỉnh khu vực miền Bắc với tổng số 69 trường hợp mắc và 10 trường hợp tử vong, tương ứng tỷ lệ chết/mắc tương đối cao (14,5%); các ca bệnh xuất hiện rải rác tại 6 tỉnh và đặc biệt ghi nhận vụ dịch tập trung tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang với 54 trường hợp mắc, chiếm 78,3% tổng số ca bệnh của khu vực miền Bắc. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở nhóm học sinh (45%); có một tỷ lệ rất đáng kể người bệnh thuộc nhóm trẻ lớn và người lớn (trên 15 tuổi 44,9%). Hầu hết ca bệnh không được tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ (85,5%). Chủng vi khuẩn gây dịch bệnh bạch hầu được xác định là típ sinh học C. gravis với kiểu gen ST-1040.
  2. Nghiên cứu cũng chỉ ra 4 yếu tố độc lập có liên quan đến mắc bệnh bạch hầu tại khu vực miền Bắc năm 2023-2024, cụ thể: 2 yếu tố nguy cơ bao gồm không tiêm vắc xin bạch hầu (aOR 5,29; 95%CI 1,16-25,92) và tiếp xúc với trường hợp mắc bệnh (aOR 9,46; 95%CI 2,44 – 36,66) làm tăng khả năng mắc bệnh. Hai yếu tố bảo vệ bao gồm Người có kiến thức đúng về đường lây truyền và các biện pháp phòng bệnh (aOR 0,14; 95%CI 0,03 – 0,72) và điều kiện nhà ở thông thoáng (aOR 0,16; 95%CI 0,05 – 0,52) làm giảm nguy cơ mắc bệnh bạch hầu. Đây là một trong số ít nghiên cứu chỉ ra yếu tố nguy cơ mắc bệnh bạch hầu tại Việt Nam nói chung và khu vực miền Bắc nói riêng.
  3. Nghiên cứu chỉ ra Y tế cơ sở huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang đã thực hiện đầy đủ các biện pháp đáp ứng chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế tuy vẫn có khó khăn về nguồn lực do không sẵn có kế hoạch đáp ứng phù hợp với dịch bệnh tại địa phương. Chiến dịch tiêm vắc xin (Td, DPT) cho cộng đồng đạt tỷ lệ cao (>90%) là biện pháp then chốt giúp kiểm soát dịch bệnh.

 

INFORMATION ABOUT NEW FINDINGS OF THE PHD THESIS

Title: Epidemiological characteristics, risk factors, and control measures for diphtheria in Northern Vietnam, 2023–2024

Specialization: Epidemiology.          Code: 9 72 01 17

Name of PhD student: Ngo Huy Tu

Supervisors:               1. Prof. Dr. Nguyen Tran Hien

  1. Dr. Ngu Duy Nghia

Training Institution:   National Institute of Hygiene and Epidemiology

 

SUMMARY OF NEW FINDINGS OF THE THESIS 

  1. The study identified the epidemiological characteristics of diphtheria in Northern Vietnam during 2023–2024, after many years without recorded the disease in this region. Diphtheria cases were reported in seven provinces in Northern Vietnam, with a total of 69 cases and 10 deaths, corresponding to a relatively high case fatality rate (14.5%). Cases were sporadically identified in six provinces, while a concentrated outbreak was notably recorded in Meo Vac district, Ha Giang province, with 54 cases, accounting for 78.3% of all reported cases in Northern Vietnam. The disease mainly occurred among students (45%); however, a considerable proportion of cases were observed among older children and adults (44.9% were over 15 years of age). Most patients were either unvaccinated or incompletely vaccinated (85.5%). The outbreak strain was identified as Corynebacterium diphtheriae biotype gravis, sequence type ST-1040.
  2. The study identified four independent factors associated with diphtheria infection in Northern Vietnam during 2023–2024. Two risk factors increased the likelihood of infection including lack of diphtheria vaccination (aOR 5.29; 95% CI: 1.16 – 25.92) and contact with a confirmed case (aOR 9.46; 95% CI: 2.44 – 36.66). Two protective factors reduced the risk including having correct knowledge about transmission routes and preventive measures (aOR 0.14; 95% CI: 0.03 – 0.72), and living in well-ventilated housing conditions (aOR 0.16; 95% CI: 0.05 – 0.52). This is among the few studies identifying diphtheria risk factors in Vietnam and in the Northern region in particular.
  3. 3. The study showed that the grassroots health system in Meo Vac district, Ha Giang province, has fully implemented outbreak control measures according to the guidelines and regulations of the Ministry of Health, although it still faces difficulties in resources due to the lack of appropriate response plans at the local level. The vaccination campaign (Td, DPT) chieving high coverage rates (>90%) is a key measure in controlling the outbreak.