| Đường dây nóng | Ban biên tập | Video Clip | Liên hệ |

THÔNG TIN VỀ CÁC KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN NCS HỒ ĐẮC THOÀN


Tên luận án: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở hai huyện của tỉnh Khánh Hòa và Gia Lai (2014-2017)

Chuyên ngành: Y tế Công cộng
Mã số: 62 72 03 01

  Họ và tên nghiên cứu sinh: HỒ ĐẮC THOÀN

  Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS. Nguyễn Thúy Hoa
  2. PGS.TS. Nguyễn Văn Chương

 Cơ sở đào tạo: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương  

 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 

 Kết quả đề tài đã bổ sung các dữ liệu về dịch tễ học sốt rét (SR) ở khu vực có tình hình SR nặng và phức tạp, là những thông tin có giá trị ứng dụng trong nghiên cứu và đào tạo. Lần đầu tiên ở Việt Nam, nghiên cứu biện pháp phòng chống sốt rét (PCSR) bằng màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp truyền thông giáo dục cho đối tượng ngủ rẫy. Hiệu quả của biện pháp là cơ sở đề xuất Dự án PCSR Quốc gia áp dụng PCSR cho người ngủ rẫy, là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao.

 2. Các kết luận mới.

 2.1. Một số đặc điểm dịch tễ và yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy 
 - Khánh Vĩnh có tỉ lệ bệnh nhân sốt rét (BNSR) vào tháng 10/2014: 3,10%, 6/2015: 3,23%, 9/2015: 3,78 % và tháng 12/2015: 3,31% và ngược lại ở Krông Pa tương ứng là 2,59%, 1,97%, 2,12% và 2,76% (p >0,05). 
- Tại Khánh Vĩnh, P. falciparum chiếm ưu thế (62,22%) so với P. vivax, ngược lại tại Krông Pa thì P. vivax chiếm ưu thế (61,29%). Nhiễm ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) không có sốt tại Khánh Vĩnh chiếm tỷ lệ 28,89% và Krông Pa chiếm tỷ lệ 22,58% (p <0,05). 
- Khánh Vĩnh có mặt 13 loài Anopheles gồm một véc tơ SR chính (An. dirus) và Krông Pa có 12 loài Anopheles gồm 2 véc tơ SR chính (An.minimus và An. dirus), cả 2 huyện đều có mặt 3 véc tơ phụ (An.aconitus, An.jeyporiensis và An.maculatus). 
- Tỷ lệ nhiễm KSTSR của các véc tơ SR và An.dirus tại Khánh Vĩnh là 1,42% và 2,52%; tại Krông Pa tương ứng là 1,31% và 1,95%. 
- Thực hành ngủ màn khi ngủ rẫy của người dân 2 huyện chỉ đạt 42,1%. Các yếu tố liên quan đến mắc SR của người ngủ rẫy là thường xuyên ngủ rẫy, không ngủ màn khi ngủ rẫy, nam giới và trên 15 tuổi.

 2.2. Hiệu quả của các biện pháp PCSR cho người dân ngủ rẫy

 Can thiệp bằng màn 1 đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu kết hợp với truyền thông giáo dục, kết quả cho thấy: 

 - Ở điểm can thiệp, tỷ lệ BNSR can thiệp giảm nhiều hơn so với điểm đối chứng (p<0,05), hiệu quả can thiệp trung bình đạt 51,63±23,06%. 
 - Mật độ véc tơ sốt rét vào nhà rẫy giảm so với trước can thiệp (p <0,05). Ở điểm đối chứng mật độ các véc tơ trước và sau can thiệp không có sự khác biệt (p <0,05). Tỷ lệ người dân ngủ màn khi ngủ rẫy tăng cao so với trước can thiệp và điểm đối chứng tỷ lệ này gia tăng không đáng kể (p >0,05). 
 - Sau 15 tháng sử dụng và 20 lần giặt, màn một đỉnh tẩm hóa chất tồn lưu lâu vẫn còn hiệu lực diệt tồn lưu (muỗi chết 80%). Màn ít tác dụng phụ và được đa số người dân chấp nhận (89,62%).

Bình Định, ngày 29 tháng 6 năm 2017

    TM.TẬP THỂ HƯỚNG DẪN TÁC GIẢ


                  PGS.TS. Nguyễn Văn Chương            Hồ Đắc Thoàn



INFORMATION ABOUT NEW FINDINGS OF THE PHD THESIS 

Title: Study on some epidemiological characteristics and measures of malaria control for people sleeping at plot-huts in two districts of Khanh Hoa and Gia Lai provinces. 

Specialization: Public Health
 Code: 62 72 03 01

Name of PhD student: HO DAC THOAN
Supervisors: 1. Assoc. Prof. Nguyen Thuy Hoa, PhD
  2. Assoc. Prof. Nguyen Van Chuong, PhD

Training Institution: National Institute of Hygiene and Epidemiology

SUMMARY OF NEW FINDINGS OF THE THESIS  

 1. Scientific and practical significance of the thesis:
The results have added malaria epidemiology data in the hyper-endemic area. It is valuable information for doing research and training. It is the first time in Vietnam long-lasting insecticidal treated conical nets coupled with health education and communication have been used as malaria control measures for plot-hut goers, a group at high risk. The effectiveness of this measure is the basis for proposing a National Malaria Control Project in order to control malaria for plot-hut goers.

 2. New findings

 2.1 Some epidemiological characteristics and factors related to malaria infection of people sleeping at plot-huts

 - A cross-sectional surveys showed that malaria rates in Khanh Vinh district was 3.19% in October 2014, 3.15% in June 2015, 3.78% in September 2015 and 3.31% in December 2015. These rates were not different from Krong Pa district by 2.59%, 1.97%, 2.12% and 2.76% respectively (p>0,05). In Khanh Vinh, P. falciparum was predominant (62.22%) compared with P. vivax, whereas in Krông Pa, P. vivax was predominant (61.29%). Malaria parasite infection without fever in Khanh Vinh accounts for 28.89%, and Krong Pa accounts for 22.58%
 - In Khanh Vinh there were 13 species of Anopheles including one main vector (An. dirus). In Krong Pa, there were 12 species of Anopheles including 2 main vectors (An.minimus, An. dirus) and 3 secondary vectors (An. aconitus, An. jeyporiensis and An. maculatus) in both districts. The propotion of the malaria vector in general and An. dirus being infected with malaria parasites, was 1.42% and 2.52% at Khanh Vinh and 1.31% and 1.95% at Krong-Pa. 
 - Knowledge and practice of malaria control in 2 districts is over 60%; however, the correct understanding of causes is 44.4% and the propotion in plot-hut goers regularly sleeping under nets in the plot-huts was only 42,1 %. 
 - Some factors related to malaria infection include regularly sleeping at plot-huts, sleeping without the nets, men and people over 15 years of age.

 2.2. Effectiveness of malaria control measures for people sleeping in the field
Effectiveness of long-lasting insecticide treated conical nets combines communication and health education as follows: 

 - At intervention site, the propotion of malaria cases was much lower than that of control site, and average intervention effectiveness was 51,63±23,06%.
 - Malaria vector densities in plot-huts were lower than before intervention, whereas there was no difference in the control sites. The percentage of plot-hut goers sleeping under the nets was higher than before intervention, but at the control sites, this rate did not increase much. 
- After 15 months of use and 20 times of washing, this kind of net has still residual efficacy (mosquitoes mortality rate 80%). It has fewer side effects and is accepted by most community members .

Supervisors     PhD student



Assoc. Prof. Nguyen Van Chuong MD, PhD                             Ho Dac Thoan


Tải file tóm tắt Tiếng Việt tại đây: Tóm tắt luận án Tiếng Việt_ Hồ Đắc Thoàn.pdf

Tải file tóm tắt Tiếng Anh tại đây: Tóm tắt luận án Tiếng Anh_Hồ Đắc Thoàn.pdf

Tải file toàn văn luân án tại đây: Luận án Hồ Đắc Thoàn.pdf








Tag: gia lai (2014-2017)tỉnh khánh hòahuyệnngười dân ngủ rẫybiện pháp phòng chống sốt rétsố đặc điểm dịch tễ

Bình luận

Bạn cần phải Đăng nhập trước khi gửi bình luận.
 
THÔNG TIN VỀ CÁC KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN NCS HỒ ĐẮC THOÀN THÔNG TIN VỀ CÁC KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN NCS HỒ ĐẮC THOÀN
0.0/5 0