| Đường dây nóng | Ban biên tập | Video Clip | Liên hệ |








KHOA HIV/AIDS


I. Giới thiệu chung

Khoa HIV/AIDS- được xây dựng từ Phòng thí nghiệm HIV thuộc khoa Vi rút đồng thời là Tiểu ban phòng chống SIDA được thành lập ngay từ giai đoạn đầu của hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam (Theo Quyết định số 528/BYT-QĐ, ngày 24/6/1987của Bộ trưởng Bộ Y tế). Tại thời điểm đó Tiểu ban do Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương trực tiếp thực hiện có nhiệm vụ chủ yếu là tiến hành các nghiên cứu và giám sát dịch tễ; thực hiện xét nghiệm; tiến hành các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông; đề xuất các hoạt động phòng, chống HIV và hợp tác quốc tế. Đây là đơn vị đầu tiên xây dựng nền móng cho công cuộc phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam. 

Nhằm đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đối phó với tình hình dịch HIV ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, ngày 11/09/2006, Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã ký Quyết định số 256/QĐ-VSDTTƯ thành lập Khoa HIV/AIDS với chức năng ban đầu là chỉ đạo, quản lý, đào tạo, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động chuyên môn về xét nghiệm, giám sát, theo dõi và đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS

Để đáp ứng với sự phát triển lớn mạnh của Khoa trong công tác phòng chống HIV/AIDS, Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương đã ban hành chức năng nhiệm vụ mới cho Khoa HIV/AIDS tại Quyết định 13/QĐ-VSDTTƯ ngày 02/01/2013. Theo đó, Khoa có 04 phòng chuyên môn là Phòng Giám sát Dịch tễ học HIV/AIDS, Phòng Theo dõi và Đánh giá HIV/AIDS, Phòng thí nghiệm Huyết thanh học HIV, Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử HIV. Khoa HIV/AIDS có chức năng thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật và đào tạo về xét nghiệm, giám sát và theo dõi đánh giá HIV/AIDS của phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia về HIV/AIDS, Tiểu ban giám sát HIV/AIDS và Ban điều hành chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh khu vực miền Bắc. 

Nhiệm vụ:

1) Về giám sát 

Định hướng, lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động. Giám sát HIV/AIDS ở Việt Nam bao gồm Giám sát trọng điểm HIV/AIDS (HSS) và Giám sát trọng điểm HIV/AIDS lồng ghép các câu hỏi hành vi (HSS+); Giám sát phát hiện HIV/AIDS; Giám sát lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học (IBBS); Giám sát kháng thuốc điều trị HIV; Giám sát tỷ lệ mới nhiễm HIV; Giám sát thế hệ hai. Sử dụng số liệu giám sát để lập kế hoạch và ra quyết định; Giám sát đồng nhiễm HIV, ...

Theo dõi và đánh giá tình hình, chiều hướng, nguy cơ và hiệu quả phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam.

2) Về xét nghiệm 

Thực hiện các xét nghiệm huyết thanh học, miễn dịch học và sinh học phân tử HIV phục vụ chẩn đoán, theo dõi điều trị và nghiên cứu HIV/AIDS: chẩn đoán nhiễm HIV, xét nghiệm đếm tế bào CD4, chẩn đoán sớm nhiễm HIV bằng kỹ thuật sinh học phân tử, xét nghiệm đo tải lượng vi rút, xét nghiệm đột biến kháng thuốc HIV, xét nghiệm định kiểu gien HIV, xét nghiệm đồng nhiễm HIV,...

Thực hiện các xét nghiệm tham chiếu về huyết thanh học HIV và sinh học phân tử HIV trong trường hợp các mẫu khó chẩn đoán. 

Xây dựng và triển khai chương trình đảm bảo chất lượng bao gồm nội kiểm và ngoại kiểm cho hệ thống các phòng xét nghiệm huyết thanh học và sinh học phân tử HIV ở Việt Nam.   

Xây dựng ngân hàng mẫu, đánh giá sinh phẩm xét nghiệm HIV tại Việt Nam.

3) Về đào tạo 

Phối hợp với Khoa đào tạo và Quản lý khoa học, các cơ quan, tổ chức và đơn vị có liên quan biên soạn các chương trình, bài giảng, sách chuyên môn; đào tạo đại học và sau đại học, đào tạo về giám sát, theo dõi, đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, xét nghiệm HIV, đảm bảo chất lượng xét nghiệm và nghiên cứu khoa học liên quan đến HIV/AIDS cho các tuyến trong cả nước.

4) Về chỉ đạo tuyến

Tham gia xây dựng các hướng dẫn quốc gia về giám sát, theo dõi, đánh giá và xét nghiệm HIV/AIDS.

Chỉ đạo, giám sát và hỗ trợ kỹ thuật các hoạt động liên quan đến giám sát, theo dõi, đánh giá và xét nghiệm HIV/AIDS, đảm bảo số liệu được thu thập đạt chất lượng cho các tuyến trong cả nước.

Chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị có liên quan lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh miền Bắc hằng năm.

5) Về nghiên cứu 

Chủ trì và tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học các cấp liên quan đến HIV/AIDS/STI nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động xét nghiệm, can thiệp, dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS. Sử dụng số liệu nghiên cứu để lập kế hoạch và ra quyết định.

6) Về hợp tác quốc tế

Phối hợp với các tổ chức, nhà tài trợ trong nước và quốc tế tiến hành các hoạt động giám sát thường xuyên, nghiên cứu khoa học và thử nghiệm các phương pháp tiếp cận mới, chuyên sâu về dịch tễ học, giám sát, theo dõi, đánh giá và xét nghiệm HIV. 

7) Thực hiện sinh hoạt và trao đổi khoa học hàng tháng để cập nhật những vấn đề liên quan trong lĩnh vực HIV/AIDS, định hướng nghiên cứu phù hợp với tình hình trong nước, khu vực và thế giới.

8) Phối hợp với các đơn vị khác trong viện trong việc thực hiện nhiệm vụ của khoa và của Viện.

9) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Viện giao.


II. Lãnh đạo và tập thể cán bộ đơn vị

Khoa HIV/AIDS phát triển lớn mạnh như ngày nay là nhờ công lao to lớn và sự chỉ đạo có tầm nhìn xa của các đồng chí lãnh đạo của Viện như GS. TSKH. Hoàng Thủy Nguyên, GS. TS. Hoàng Thủy Long, GS.TS. Nguyễn Trần Hiển.

Hiện nay ban lãnh đạo Khoa HIV/AIDS gồm 2 đồng chí 

PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn- Trưởng khoa

TS.BS. Phạm Hồng Thắng- Phó trưởng khoa

Tập thể cán bộ của Khoa có 17 cán bộ với 01 phó giáo sư, 03 tiến sỹ, 10 thạc sỹ, 02 cử nhân và 01 kỹ thuật viên, hầu hết là những cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao đa số được đào tạo ở nước ngoài. Các cán bộ đều năng động, sáng tạo luôn tâm huyết gắn bó với công tác phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam. Khoa luôn trân trọng ghi nhớ đến những đóng góp quý báu của các cán bộ trước đây như CN. Phạm Kim Chi, Ths. Bùi Đức Thắng, BS. Nguyễn Tri Phương. 

III. Những thành tựu nổi bật của đơn vị trên các lĩnh vực

Là đơn vị chuyên môn kỹ thuật đầu ngành trong cả nước về công tác giám sát và xét nghiệm HIV, Khoa HIV/AIDS đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Thành tựu trong giám sát, theo dõi và đánh giá

Khoa HIV/AIDS đồng thời là Tiểu ban giám sát HIV/AIDS quốc gia đã tham gia xây dựng nhiều quy định, hướng dẫn Quốc gia về giám sát và HIV/AIDS cho toàn bộ hệ thống như Quyết định 1418 và Thông tư 09 về hướng dẫn giám sát dịch tễ học HIV/AIDS

Khoa HIV/AIDS dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế đã xây dựng và triển khai hệ thống giám sát phát hiện HIV, giám sát trọng điểm HIV (HSS) và giám sát trọng điểm lồng ghép các câu hỏi hành vi (HSS+) cấp quốc gia. 

Khoa đã chỉ đạo và triển khai nhiều nghiên cứu có quy mô lớn và tiến hành đầu tiên tại Việt nam. Các nghiên cứu này đã góp phần cho việc xây dựng kế hoạch và hoạch định chính sách trong phòng chống HIV/AIDS cũng như trả lời các chỉ số quan trọng cho Tổ chức liên hiệp quốc:

- Giám sát hành vi là hệ thống cảnh báo sớm tình hình lây nhiễm HIV trong thời gian sắp tới. Vì vậy, từ năm 2005 – 2006, Khoa HIV đã chỉ đạo và tiến hành điều tra Giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại 7 tỉnh/thành phố. Đây là điều tra tại cộng đồng và trên các nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gồm 3.547 Phụ nữ Bán Dâm (PNBD) tại 7 tỉnh, 2.032 người Nghiện Chích Ma Túy (NCMT) tại 7 tỉnh và 790 Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tại 2 tỉnh. Khoa đã triển khai IBBS vòng 2 năm 2009 – 2010 trên 3.628 NCMT tại 12 tỉnh, 5.458 PNBD tại 10 tỉnh và 1.596 nam QHTD đồng giới tại 4 tỉnh. IBBS vòng 3 đã triển khai năm 2013 - 2014 trên 3.950 NCMT tại 9 tỉnh, 3090 PNBD tại 6 tỉnh và 1.587 MSM tại 4 tỉnh. Ba vòng IBBS, ngoài điều tra các hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV, những người tham gia còn được lấy máu, nước tiểu và bệnh phẩm hậu môn để làm các xét nghiệm HIV, giang mai, lậu, chlamydia, CD4, viêm gan B, viêm gan C bằng các kỹ thuật huyết thanh học và sinh học phân tử.

- Do nhu cầu thực tế cần có các chỉ số hành vi trên số lượng tỉnh nhiều hơn, Khoa HIV/AIDS đã thí điểm thành công lồng ghép các câu hỏi về hành vi vào giám sát trọng điểm HIV/AIDS (HSS+) tại 7 tỉnh, thành phố năm 2010. Năm 2011 đã mở rộng ra 12 tỉnh/thành phố. Cho đến nay, hầu hết các tỉnh triển khai đều đã và đang thực hiện lồng ghép các câu hỏi hành vi trong GSTĐ.

- Khoa HIV/AIDS đã trực tiếp triển khai nghiên cứu ước tính quần thể các nhóm nguy cơ cao bao gồm người NCMT,  PNBD và MSM tại 3 tỉnh Điện Biên, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu áp dụng nhiều phương pháp khác nhau đã được thử nghiệm trên thế giới và tìm kiếm phương pháp đặc thù của Việt Nam, khuyến cáo các phương pháp áp dụng phù hợp cho từng nhóm quần thể nguy cơ cao và từng khu vực. Kết quả nghiên cứu đưa ra số liệu ước tính kích thước quần thể gần sát hơn với thực tế để giúp các tỉnh lập kế hoạch tốt hơn.

- Cùng với Bộ Y tế, Tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế (FHI), Trung tâm Đông Tây, UNAIDS, WHO, … khoa đã tiến hành nhiều vòng ước tính và dự báo số nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam. Đây là bộ số liệu đầy đủ trên toàn các lĩnh vực liên quan đến phòng chống HIV/AIDS cung cấp cho Bộ y tế đưa ra kế hoạch phòng chống HIV/AIDS hiệu quả hơn. 

- Tiến hành triển khai nghiên cứu tỷ lệ mới nhiễm HIV ở 6 nhóm quần thể giám sát trọng điểm là NCMT, PNBD, bệnh nhân lao, nam bệnh nhân mắc các bệnh lây qua đường tình dục, phụ nữ khám thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Sử dụng kỹ thuật mới là các bộ sinh phẩm BED và LAg- Avidity do CDC phát triển và nghiên cứu để xác định các trường hợp mới nhiễm HIV. 

- Điều tra hộ gia đình nhằm đánh giá kiến thức, hiểu biết và lây nhiễm HIV trong nhóm quần thể dân cư từ 15 – 49 tuổi tại Thái Bình – đại diện khu vực nông thôn và TP HCM – đại diện cho khu vực thành thị. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt nam về HIV trong cộng đồng dân cư cung cấp số liệu quan trọng trong ước tính và dự báo nhiễm HIV tại Việt Nam.

- Đánh giá hiệu quả can thiệp của dự án Cộng đồng Hành động Phòng chống AIDS tại 5 tỉnh Điện Biên, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp có biên giới với Lào và Cămpuchia. Đây là nghiên cứu lần đầu tiên ở Việt Nam đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống HIV/AIDS cho những nhóm nguy cơ có biên giới với các nước bạn. Nghiên cứu này là mô hình để các dự án khác học tập về phương pháp quản lý và cách thức đánh giá hiệu quả dự án được dự tính ngay từ ban đầu.

- Thực hiện điều tra về tỷ lệ nhiễm HIV, giang mai và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số ở 11 tỉnh tại Việt Nam. Đây là cuộc điều tra đầu tiên tại Việt Nam tiến hành trên 9 nhóm dân tộc thiểu số chính tại Việt Nam (Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Thái, Raglay và Khmer). Kết quả đưa ra được những khuyến cáo về mô hình phòng chống HIV/AIDS phù hợp với phong tục tập quán, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số.

- Triển khai nghiên cứu mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV cho những người nghiện chích ma túy tại tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu đã đưa ra được mô hình hiệu quả, chi phí thấp và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam. Đây là một trong những nghiên cứu hiếm hoi cho thấy hiệu quả thực sự của can thiệp.

- Nhằm nâng cao chất lượng số liệu GSTĐ, năm 2014 Khoa HIV đã xây dựng hoàn thiện và đưa vào áp dụng tại 40 tỉnh/thành phố “Quy trình chuẩn trong triển khai GSTĐ”.

- Trong các nghiên cứu được triển khai, khoa đã đào tạo và nâng cao năng lực triển khai nghiên cứu khoa học và các kỹ năng cho hàng ngàn cán bộ đang làm việc trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS tại các tỉnh tham gia. Ngoài ra khoa HIV/AIDS còn tổ chức định kỳ nhiều lớp tập huấn về Dịch tễ học và giám sát HIV cho các cán bộ đang làm công tác giám sát, theo dõi và đánh giá HIV ở tất cả 63 tỉnh, thành phố.

Thành tựu trong công tác xét nghiệm

Phòng thí nghiệm HIV của Khoa là phòng thí nghiệm HIV đầu tiên trong cả nước được các chuyên gia của Viện Pasteur Paris giúp xây dựng từ năm 1988, đóng vai trò là phòng xét nghiệm chuẩn thức HIV quốc gia và đã góp phần quan trọng trong công tác xét nghiệm chẩn đoán và đào tạo một cách hệ thống cho các cán bộ làm công tác XN HIV ở Việt Nam. 


Chất lượng xét nghiệm HIV luôn được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy Phòng Huyết thanh học HIV là một trong những phòng thí nghiệm HIV đầu tiên ở Việt Nam đạt chứng nhận quốc tế ISO 15189:2007 ngày 14/5/2012. Mới đây, Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử HIV cũng đạt chứng nhận quốc tế ISO 15189:2012 31/03/2015 đây là PXN đầu tiên ở Miền Bắc được đánh giá và công nhận tiêu chuẩn ISO theo phiên bản mới 2012. 


Năm 2014, Phòng thí nghiệm Huyết thanh học HIV vinh dự được Bộ Y tế đánh giá và chính thức công nhận là một trong hai Phòng thí nghiệm tham chiếu Quốc gia về lĩnh vực huyết thanh học HIV.


Cả hai phòng thí nghiệm trong Khoa là phòng thí nghiệm đầu tiên của TP Hà Nội đạt tiêu chuẩn An toàn sinh học cấp II ngày 30/06/2014. 


Hàng năm, các phòng thí nghiệm đã thực hiện hơn 2.000 mẫu bệnh phẩm chẩn đoán HIV trong đó có nhiều mẫu khó chẩn đoán, đây là một trong hai phòng thí nghiệm ở Việt Nam xét nghiệm chẩn đoán sớm trường hợp trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV bằng kỹ thuật PCR và Real-time PCR cho khoảng 800 trẻ/năm. Ngoài ra các PTN còn thực hiện xét nghiệm phục vụ cho công tác theo dõi điều trị ARV như XN đếm tế bào CD4, xét nghiệm tải lượng HIV-1 và xét nghiệm kháng thuốc.


Phòng thí nghiệm đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng xét nghiệm cho hệ thống PXN HIV trong cả nước qua công tác đảm bảo chất lượng. 

- Từ năm 2006, được sự hỗ trợ của CDC Hoa Kỳ, Phòng thí nghiệm đã sản xuất và cung cấp Bộ mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng các phòng xét nghiệm HIV cho 104 đơn vị trên toàn quốc, cho đến nay đã có hơn 500 PXN tham gia. 

- Chương trình nội kiểm cũng được thực hiện từ năm 2012 và đã cung cấp cho 35 đơn vị. 

- Năm 2014 PTN đã triển khai chương trình ngoại kiểm xét nghiệm tải lượng HIV-1 đầu tiên ở Việt nam.  

- Để nâng cao hơn nữa chất lượng Phòng thí nghiệm đã áp dụng chương trình phần mềm ngoại kiểm trực tuyến, đồng thời đang phấn đấu đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 17043 cho các đơn vị cung cấp ngoại kiểm.

Các Phòng thí nghiệm trong Khoa đã thực hiện nhiều nghiên cứu quan trọng: 

- Nghiên cứu xác định ngưỡng kháng thuốc HIV theo hướng dẫn của WHO trên những bệnh nhân chưa được điều trị HIV tại các VTC ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh từ năm 2007, năm 2009. Việt Nam là nước đầu tiên thực hiện nghiên cứu này theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.

- Nghiên cứu tỷ lệ mới nhiễm HIV bằng kỹ thuật BED và LAg avidity HIV. Đây là nghiên cứu mới trên thế giới bằng các kỹ thuật trong phòng thí nghiệm giúp xác định tỷ lệ mới nhiễm HIV mà không phải triển khai các nghiên cứu thuần tập phức tạp và tốn kém.

- Nghiên cứu đánh giá chất lượng 11 sinh phẩm chẩn đoán HIV tại Việt Nam hợp tác với CDC và APHL Hoa kỳ. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam thực hiện đánh giá nhiều loại sinh phẩm HIV tuân theo hướng dẫn khoa học của WHO/CDC. Do trên thị trường có rất nhiều loại sinh phẩm có chất lượng khác nhau, kết quả nghiên cứu đã giúp các PTN lựa chọn được các sinh phẩm tốt nhằm đạt kết quả tốt nhất trong chẩn đoán HIV.

- Nghiên cứu Xây dựng và đánh giá phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV quốc gia tại Việt Nam hợp tác với WHO, Global Fund và NRL Úc dưới sự chỉ đạo của Cục Phòng Chống HIV/AIDS Bộ Y tế. Kết quả của các nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc đưa ra khuyến cáo các phương cách xét nghiệm chẩn đoán bao gồm cả phương cách kết hợp 03 sinh phẩm nhanh cho các PXN HIV ở các tuyến khác nhau trong cả nước. Kết quả nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng xét nghiệm HIV ở Việt Nam.

- Nghiên cứu đồng nhiễm HIV với HBV, HCV; nghiên cứu tỷ lệ nhiễm lậu và Chlamidia bằng kỹ thuật PCR, CD4 và tải lượng vi rút trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong các nghiên cứu IBBS. 

- Tổ chức Y tế Thế giới cùng Bộ Y tế đã triển khai thực hiện sáng kiến Điều trị 2.0 (Treatment 2.0) trong đó có xét nghiệm sớm HIV để tăng cường việc tiếp cận với các dịch vụ chẩn đoán, chăm sóc và điều trị HIV qua đó sẽ góp phần quan trọng trong công tác dự phòng lây nhiễm HIV. Phòng thí nghiệm huyết thanh học HIV là đơn vị chịu trách nhiệm kỹ thuật cho các tỉnh triển khai xét nghiệm HIV tại tuyến xã tại miền Bắc và chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng cho toàn bộ chương trình. Với kết quả của chương trình sáng kiến điều trị 2.0 đã có nhiều khách hàng được tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm và chăm sóc y tế sớm. Ngoài ra trong chương trình này việc triển khai lấy máu đầu ngón tay xét nghiệm sàng lọc HIV lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam đã góp phần thúc đẩy việc mở rộng xét nghiệm HIV ra các tuyến. 

- Phòng thí nghiệm còn tham gia vào đề án hỗ trợ các Phòng xét nghiệm sàng lọc tuyến huyện tiến tới mở rộng xét nghiệm khẳng định các trường hợp HIV dương tính bằng kỹ thuật xét nghiệm nhanh.  Cho đến nay đã hỗ trợ 10 đơn vị và 4 đơn vị đã sẵn sàng cho việc thẩm định của Bộ Y tế. Năm 2014. Việt nam là một trong những nước đầu tiên đã cam kết thực hiện mục tiêu 90-90-90 do UNAIDS đề ra nhằm hướng tới kết thúc đại dịch AIDS vào năm 2030. Các hoạt động trên của phòng thí nghiệm khoa HIV/AIDS góp phần quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu mà Việt Nam cam kết với UNAIDS.


- Các phòng thí nghiệm trong Khoa còn tích cực tham gia công tác chỉ đạo tuyến, hỗ trợ kỹ thuật các tỉnh trong công tác XN HIV, hỗ trợ kỹ thuật cho các tỉnh về lấy mẫu xét nghiệm tải lượng HIV, EID, CD4.


- Tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ phòng thí nghiệm của các đơn vị như: - Xét nghiệm chẩn đoán HIV; - Tư vấn xét nghiệm HIV; - Tập huấn về chương trình Ngoại kiểm;  - Tập huấn về Hệ thống quản lý chất lượng, Chương trình ngoại kiểm; - Tập huấn chuyên môn trong công tác xét nghiệm tải lượng HIV và EID; - XN HIV bằng sinh phẩm nhanh bằng lấy mẫu máu đầu ngón tay đây là kỹ thuật mới được WHO triển khai trong thời gian gần đây nhằm mở rộng xét nghiệm HIV; - Đào tạo giảng viên tuyến tỉnh TOT cho cán bộ XN HIV tỉnh; - Đào tạo giảng viên tuyến tỉnh về đánh giá phòng xét nghiệm HIV…

- Các cán bộ của PTN đã cùng các chuyên gia và Bộ Y tế soạn thảo nhiều tài liệu hướng dẫn và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xét nghiệm HIV như: - Quyết định 1097/2013/QĐ-BYT, ngày 04/4/2013 về việc ban hành Hướng dẫn xây dựng ngân hàng mẫu HIV dùng cho các hoạt động đảm bảo chất lượng xét nghiệm HIV; - Quyết định 1098/2013/QĐ-BYT, ngày 04/4/2013 về việc ban hành Hướng dẫn Quốc gia về xét nghiệm Huyết thanh học HIV; - Quyết định 1099/2013/QĐ-BYT, ngày 04/4/2013 về việc ban hành Quy định về điều kiện thực hiện và QLCL xét nghiệm đếm tế bào T-CD4; - Thông tư 15/2013/TT-BYT, ngày 24/5/2013 về việc Hướng dẫn đảm bảo chất lượng thực hiện kỹ thuật xét nghiệm HIV; - Quyết định 1921/2013 về hướng dẫn xét nghiệm tải lượng HIV; - Quyết định 1053/2010 về Hướng dẫn xét nghiệm HIV trẻ dưới 18 tháng tuổi; - Bộ công cụ đánh giá chất lượng các phòng xét nghiệm HIV ban hành tháng 1/2015.


Hợp tác quốc tế:  Khoa HIV/AIDS là đối tác tin cậy của nhiều tổ chức quốc tế như Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), UNAIDS, Tổ chức sức khỏe gia đình thế giới (FHI), Quỹ toàn cầu, Clinton Foundation… Nhờ có các hoạt động hợp tác quốc tế mạnh mẽ, Khoa HIV đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và cũng là một trong những đơn vị của Viện có kinh phí hoạt động hàng năm lớn nhất.

Nghiên cứu khoa học và xuất bản sách, bài báo khoa học

Khoa HIV/AIDS hoàn thành 09 đề tài nghiên cứu khoa học, đã xuất bản được 32 đầu sách và báo cáo, 33 bài báo đăng trên các tạp chí uy tín trên thế giới và 55 bài báo đăng trong nước. Ngoài ra các các cán bộ trong khoa tham gia hướng dẫn thành công nhiều nghiên cứu sinh, thạc sỹ.IV.  Các danh hiệu thi đua và hình thức khen  thưởng đã đạt được 

Với những đóng góp tích cực của lãnh đạo và tập thể khoa HIV/AIDS, Khoa đã vinh dự nhận được nhiều phần thưởng cao quý

Hình thức khen thưởng tập thể

- Huân chương lao động hạng ba Quyết định 2033 ngày 23/11/2010 do Chủ tịch nước ký

- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế, Quyết định 992/QĐ-BYT ngày 5/4/2011 do Bộ trưởng bộ Y tế ký

Hình thức khen thưởng cá nhân

Nhiều cán bộ trong khoa cũng đạt được các thành tích cao quý trong đó có PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn đã vinh dự được trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, Số QĐ 2162/QĐ/TTg ngày 26/11/2010 do Thủ tướng chính phủ ký, Huân chương lao động hạng ba,  Số quyết định 2033 ngày 23/11/2010 do Chủ tịch nước ký. Bằng khen của Bộ trưởng Y tế Số QĐ 992/QĐ-BYT ngày5/4/2011 do Bộ trưởng bộ Y tế ký. Ngoài ra nhiều  cán bộ trong khoa liên tục là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở nhiều năm, nhận được bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế và Viện trưởng.



TIN NỔI BẬT
Giới thiệu chung Giới thiệu chung
4.5/5 394