Biểu đồ 2. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD
Biểu đồ 3. Tỷ lệ người TCMT dùng BKT sạch trong lần tiêm chích gần nhất

PHẦN II: ƯỚC TÍNH KÍCH THƯỚC QUẦN THỂ
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ NHANH
n Nhóm NCMT:
q Số lượng NCMT tương đối cao và có thể tiếp cận được.
q Tỷ lệ nhiễm HIV cao
q Có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV như dùng chung BKT, QHTD không an toàn. Xu thế dùng ma túy đá và quan hệ tình dục tập thể và không dùng BCS trong nhóm trẻ.
q Một số tỉnh chưa có hoạt động can thiệp hoặc mới triển khai ở quy mô nhỏ: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Ninh Bình
q Chưa có sự đồng thuận từ công an và chính quyền địa phương với hoạt động can thiệp.
n Nhóm PNBD:
q Số lượng PNBD tương đối cao và có thể tiếp cận được
q Tỷ lệ nhiễm HIV ở thấp hầu hết các tỉnh, ngoại trừ Hà Nam và Sơn La
q Có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở mức độ trung bình. Một số PNBD có tiêm chích ma túy
q Một số tỉnh chưa có hoạt động can thiệp hoặc mới bắt đầu triển khai ở quy mô nhỏ: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Ninh Bình, Sơn La
q Hình thức hoạt động: chủ yếu dựa vào các cơ sở
q Chưa có sự đồng thuận từ công an và chính quyền địa phương với hoạt động can thiệp.
q Nhu cầu PNMD: chính quyền không làm khó để chị em dễ dàng và an tâm khi tiếp cận dịch vụ giảm tác hại
n Nhóm MSM:
q Hành vi nguy cơ:
n Không sử dụng BCS với bạn tình là người yêu vì sợ bị nghi ngờ không chung thủy
n Phần lớn có dùng ma túy tổng hợp (hàng đá, thuốc lắc) hay cần sa
n Dùng chung BKT khi TCMT (mặc dù tỷ lệ TCMT thấp, khoảng 10%) vì BKT không sẵn có khi cần
q Các rào cản:
n MSM không dám đến tư vấn và xét nghiệm HIV vì sợ bị nhận diện là MSM chứ không phải sợ biết kết quả XN HIV
q Đa số chưa bao giời đi khám STI
q Hoạt động can thiệp mới bắt đầu triển khai ở quy mô nhỏ
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
n Nhóm NCMT
q Tỷ lệ nhiễm HIV cao ở nhóm NCMT
§ Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT trong điều tra này cao hơn trong GSTĐ (13,4% năm 2011). Đặc biệt trong nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT cao nhất tại Sơn La (29,7%).
q Hành vi nguy cơ
§ Tỷ lệ dùng chung BKT trong 1 tháng qua rất cao ở các tỉnh phía Nam, cao nhất tại Bình Dương (59,7%).
§ Tỷ lệ dùng BCS trong lần QHTD gần nhất khá cao với PNBD (79,3%) nhưng thấp với bạn tình bất chợt (50,0%) và với vợ/bạn gái (43,2%).
§ Đa số người NCMT đều có bạn tình thường xuyên.
q Độ bao phủ của các chương trình dự phòng và can thiệp
§ Tỷ lệ nhận được BKT miễn phí trong 6 tháng qua không đồng đều giữa các tỉnh. Có tỉnh hầu như chưa có hoạt động can thiệp này như ở Vĩnh Phúc (1,7%)
§ Tỷ lệ nhận được BCS rất thấp ở hầu hết các tỉnh. Có tỉnh hầu như chưa có hoạt động can thiệp này như ở Hà Nam (2,6%), Ninh Bình (4,9%) và Vĩnh Phúc (6,2%)
§ Tỷ lệ được xét nghiệm HIV và biết kết quả trong vòng 12 tháng qua còn thấp ở nhiều tỉnh (trung vị: 24,2%)
Ø Cần triển khai ngay các hoạt động can thiệp giảm hại ở các nhóm nguy cơ cao tại các tỉnh này
Ø Dự phòng lây nhiễm cho bạn tình của người NCMT là cần thiết.
n Nhóm PNBD
q Tỷ lệ nhiễm HIV
§ Tỷ lệ nhiễm HIV ở đa số các tỉnh ở mức thấp (trung vị: 2,1%). Tuy nhiên, một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao như Hà Nam (10%) và Sơn La (7,1%)
q Hành vi nguy cơ
§ Tỷ lệ thường xuyên dùng BCS trong tháng qua với KLC thấp nhất ở Sơn La (22,7%) và Bình Dương (31,2%).
§ Tỷ lệ TCMT cao ở Vĩnh Phúc (7,1%) và Hà Nam (3%)
q Độ bao phủ của các chương trình dự phòng và can thiệp
§ Tỷ lệ nhận được BCS miễn phí trong 6 tháng ở một số tỉnh rất thấp (trung vị: 53,0%). Có tỉnh hầu như chưa có hoạt động can thiệp này như ở Hưng Yên (14,6%) và Vĩnh Phúc (9,7%)
§ Tỷ lệ PNBD tiếp cận khám và điều trị STI trong vòng 3 tháng qua thấp (trung vị 32,7%), đặc biệt ở Hà Nam, Hưng Yên và Sơn La đều dưới 20%
Ø Với tỷ lệ nhiễm HIV cao và nguy cơ lây nhiễm HIV, ngoài chương trình phát BCS và khám và điều trị STI thì cần triển khai chương trình phân phát và trao đổi BKT cho nhóm PNBD.
n Việc tăng cường độ bao phủ của các chương trình dự phòng can thiệp vào các nhóm quần thể nguy cơ này là cần thiết và phải đảm bảo tính đồng đều giữa các dịch vụ và các địa phương.
n Sử dụng phương pháp điều tra này là phù hợp để đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/STI, hành vi nguy cơ và độ bao phủ của các chương trình can thiệp tại các tỉnh có tình hình dịch ở mức vừa phải.
n Ước lượng quần thể nhóm NCMT theo phương pháp lập bản đồ rất thấp. Điều này phản ánh thực tế những người NCMTngày nay ít xuất hiện tại các tụ điểm.
n Phổ biến rộng rãi kết quả nghiên cứu đánh giá này đến các cấp chính quyền để đạt được sự đồng thuận và vận động chính sách.
Dương Công Thành
Khoa HIV/AIDS