Thời tiết











  Chương trình Giám sát, theo dõi và đánh giá nhiễm HIV/AIDS

HOẠT ĐỘNG 2001-2005 CỦA TIỂU BAN GIÁM SÁT HIV,

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

 

1.        Trong năm 2000-2001, tiểu ban đã hợp tác với tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế (FHI) triển khai giám sát hành vi vòng 1 và vòng 2 trên 6 nhóm là gái mại dâm đường phố, gái mại dâm nhà hàng, nghiện chích ma tuý, lái xe đường dài và quần thể di biến động (Công nhân xây dựng ngoại tỉnh, thuỷ thủ, ngư phủ, công nhân bốc vác gạo, …) tại 5 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ.

2.        Trong năm 2001-2002 đã tiến hành nghiên cứu hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV trên nhóm gái mại dâm đường phố tại TP HCM. Nghiên cứu đã phát hiện hành vi tiêm chích ma tuý là nguy cơ gây nhiễm HIV chủ yếu trên nhóm này.

3.        Tiểu ban đã cùng với Bộ Y tế, tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế (FHI), Trung tâm Đông Tây, UNAIDS, WHO, … tiến hành ước tính và dự báo số nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2008 (năm 2003). Số liệu đưa ra nhằm góp phần xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Việc ước tính và dự báo này dự tính sẽ 2 năm lại tiến hành một lần dựa vào những số liệu thu thập được để dự báo tốt hơn cho những năm sau.

4.        Tiểu ban đã phối hợp với tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) tiến hành thử nghiệm phương pháp điều tra mới RDS (Respondent Driven Sampling) dành cho nhóm đối tượng bị che khuất (Gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, …) nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phương pháp này trong giám sát trọng điểm và giám sát hành vi (tiến hành năm 2004). Dùng phương pháp mới này đã tiến hành điều tra phỏng vấn 297 gái mại dâm tại Hà Nội và 300 gái mại dâm tại TP Đà Nẵng. Kết quả của cuộc điều tra này sẽ góp phần vào việc quyết định có nên sử dụng phương pháp này trong giám sát hành vi sắp tới hay không.

5.        Tiểu ban giám sát HIV trong năm 2004 đã triển khai nghiên cứu Thế hệ hai tại tỉnh Khánh Hoà để thử nghiệm mô hình giám sát thế hệ hai thông qua lồng ghép ba loại giám sát HIV, STI và Hành vi. Đã tiến hành điều tra trên 272 gái mại dâm đường phố, 511 gái mại dâm nhà hàng, 186 người nghiện chích ma tuý và 375 công nhân nhà máy tại tỉnh Khánh Hoà. Kết quả cho thấy một tỉnh mặc dù với sự giúp đỡ của viện Pasteur Nha Trang cũng không dễ gì thực hiện cuộc điều tra ba trong một: lồng ghép 3 loại giám sát HIV, STI và hành vi.

6.        Đã triển khai nghiên cứu hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV trên nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam tại TP Hồ Chí Minh để đưa ra khuyến nghị có nên đưa nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam vào giám sát trọng điểm hay không. Đã tiến hành điều tra phỏng vấn và làm xét nghiệm HIV trên 600 người có QHTD đồng giới nam vào tháng 5 năm 2004 tại TP HCM. Kết quả cho thấy đây là một quần thể có số lượng lớn và có nhiều hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV. Tỷ lệ nhiễm HIV trên quần thể này là 8%.

7.        Tiểu ban giám sát HIV đã chủ trì điều tra cơ bản dự án Quỹ Toàn cầu tại 20 tỉnh của dự án nhằm đưa ra được hiện trạng hệ thống chăm sóc người nhiễm HIV và phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị để có được một hệ thống chăm sóc người nhiễm HIV có hiệu quả.

Đã tiến hành điều tra 2223 người trong hệ thống bệnh viện tỉnh, 1244 người trong hệ thống Trung tâm Y tế huyện, 2659 phụ nữ mang thai, 4290 người nhiễm HIV và 418 bệnh nhân được điều trị về HIV/AIDS tại hệ thống y tế nhà nước. Hiện tại đang viết báo cáo để có thể tổ chức hội thảo công bố kết quả.

Đây là cuộc điều tra đầu tiên với quy mô lớn (trên 20 tỉnh) về hệ thống chăm sóc y tế có liên quan đến HIV. Kết quả của cuộc điều tra sẽ góp phần to lớn vào sự thành công của dự án trong tương lai.

8.        Tiểu ban đã triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp của dự án Cộng đồng Hành động Phòng chống AIDS tại 5 tỉnh Điện Biên, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp.

Đây là một nghiên cứu đánh giá hiệu quả một dự án đầu tiên ở Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu này nhằm đưa ra được những kết luận có giá trị trong xây dựng mô hình phòng chống AIDS trong tương lai về mô hình, phương pháp quản lý, biện pháp triển khai, giá thành và hiệu quả của mô hình.

Cuộc điều tra đã phỏng vấn về hành vi và tiến hành lấy máu làm xét nghiệm khoảng 11.000 người thuộc các nhóm gái mại dâm, nghiện chích ma túy, nhóm thanh niên 15-24 tuổi chưa lập gia đình và quần thể di biến động. Trong số đó đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu cho 1000 gái mại dâm. Tiến hành làm các xét nghiệm về HIV, Giang mai, Chlamydia, Héc péc, và lậu.

Cuộc điều tra cũng đã tiến hành phỏng vấn khoảng 600 y bác sĩ làm việc liên quan đến phòng chống HIV và các bác sĩ thăm khám điều trị STI, 500 người nhiễm HIV cùng với 500 người nhà người nhiễm HIV và 500 phụ nữ mang thai.

Một nhóm rất dặc biệt cũng được quan tâm tiến hành điều tra phỏng vấn trong cuộc điều tra này là nhóm các cán bộ lãnh đạo cộng đồng hỏi về quan điểm của họ trong phòng chống AIDS. Dự kiến điều tra 600 cán bộ lãnh đạo cộng đồng.

9.        Tiểu ban giám sát HIV được Bộ Y tế giao trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể Chương trình hành động số 4 của chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS từ 2005 đến 2010 và tầm nhìn 2020: Giám sát HIV, Theo dõi và Đánh giá chương trình. Tiểu ban đã đưa ra được bản thảo lần 1 để lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức trong và ngoài nước có liên quan.

10.    Tiểu ban đã hợp tác với Tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế tiến hành phân tích tổng hợp tình hình nhiễm HIV tại 2 tỉnh Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về biện pháp phòng chống cũng như các quyết định về chính sách sao cho có hiệu quả.

11.    Tiểu ban đã tham gia bàn bạc thảo luận về chương trình theo dõi và đánh giá dự án Ngân hàng Thế giới. Dựa trên cơ sở đó xây dựng chương trình và hệ thống Giám sát, theo dõi và đánh giá cho cả nước.

12.    Tiểu ban đã tiến hành điều tra hộ gia đình đánh giá tình tình lây nhiễm HIV trên quần thể dân cư bình thường tại Thái Bình và TP HCM. Đã tiến hành điều tra 1500 và 3000 người tuổi 15-49 tương ứng TP HCM và Thái Bình. Đây là một điều tra rất quan trọng mà số liệu sẽ được sử dụng trong ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm 15-49 tuổi tại Thái Bình là 0,3% và tỷ lệ nhiễm HIV trên cùng nhóm tại TP Hồ Chí Minh là 0,7%. 

13.    Tiểu ban đã tham gia đào tạo tập huấn cho các cán bộ chương trình của 21 tỉnh tham gia dự án DIFID về phương pháp lập bản đồ xã hội và địa dư. Các cán bộ được đào tạo sẽ về đào tạo và hướng dẫn các cán bộ tại địa phương mình lập bản đồ xã hội và đại dư nhóm gái mại dâm và nghiện chích ma túy nhãm phục vụ cho việc tiến hành can thiệp của dự án.

14.    Tiểu ban Giám sát HIV phối hợp với Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế và CDC triển khai nghiên cứu lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học tại 07 tỉnh thành phố Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ. Nghiên cứu này ngoài điều tra các hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV sẽ còn lấy mẫu máu, nước tiểu và bệnh phẩm hậu môn để làm các xét nghiệm HIV, giang mai, lậu, chlamydia bằng các kỹ thuật huyết thanh học và sinh học phân tử.

15.    Tiểu ban hợp tác với CDC tiến hành triển khai nghiên cứu tỷ lệ mới nhiễm HIV ở 6 nhóm quần thể giám sát trọng điểm là gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, bệnh nhân lao, nam bệnh nhân mắc các bệnh lây qua đường tình dục, phụ nữ khám thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Sử dụng kỹ thuật mới (BED) để phát hiện một trường hợp mới nhiễm HIV gần đây hay không.

16.    Đã phối hợp với CDC chuẩn bị triển khai nghiên cứu giám sát tính kháng thuốc ARV của HIV ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này là rất quan trọng khi Việt Nam sẽ triển khai sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu điều trị cho các bệnh nhân AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới.

17.    Củng cố và nâng cao chất lượng giám sát HIV: xem xét lại hệ thống giám sát, thực hiện thường quy giám sát, phát triển thường quy giám sát HIV/AIDS cho phù hợp với điều kiện mới và xây dựng tài liệu hướng dẫn quốc gia về giám sát hành vi.

 
Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo