Thời tiết











  Thường quy và Hướng dẫn kỹ thuật-Xét nghiệm
  • Hướng dẫn Thực hành tốt trong phòng xét nghiệm
  • Phòng xét nghiệm y tế (medical laboratory/clinical laboratory) là nơi thực hiện các xét nghiệm về sinh học, vi khuẩn, vi rút, miễn dịch, hoá học, huyết học, miễn dịch huyết học, sinh lý học, tế bào học và bệnh học. Ngoài ra, phòng xét nghiệm y tế còn có thể là nơi thực hiện những xét nghiệm khác liên quan với bệnh phẩm từ người, cho mục đích cung cấp những thông tin về chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh hoặc đánh giá tình trạng sức khoẻ của người.

  • Cách sử dụng và bảo quản dụng cụ thuỷ tinh trong phòng thí nghiệm
  • Thủy tinh là một chất rắn vô định hình đồng nhất, có gốc silicat, thường được pha trộn thêm các tạp chất để có tính chất theo ý muốn. Các loại dụng cụ thủy tinh trong phòng thí nghiệm thường bằng thủy tinh borosilicat, thạch anh nấu chảy hoặc oxyd sillic nấu chảy khác do tính bền vững hoá học cao hơn và hệ số giãn nở của loại thủy tinh này thấp.

  • Cách sử dụng kính hiển vi quang học
  • Kính hiển vi quang học là một dụng cụ quang học hỗ trợ cho mắt gồm có nhiều lăng kính với các độ phóng đại khác nhau, có tác dụng làm tăng góc trông ảnh của những vật rất nhỏ mà ta không thể nhìn thấy được bằng mắt thường.


  • Kỹ thuật PCR trong chẩn đoán lao
  • Kỹ thuật PCR cho phép xác định tác nhân gây bệnh trực tiếp trong bệnh phẩm nhờ khả năng nhận biết và sao chép để khuyếch đại về mặt số lượng đoạn trình tự đặc hiệu trên genom của vi khuẩn.

  • Phế Cầu Khuẩn S.pneumoniae
  • Phế cầu là căn nguyên chủ yếu của viêm tai giữa, viêm xoang ở trẻ em và là căn nguyên phổ biến nhất của viêm màng não ở người lớn. Từ khi có kháng sinh, tỷ lệ chết của tất cả các bệnh phế cầu đã giảm từ 30% xuống 15% nhưng tỷ lệ này lại lên đến 70% ở những bệnh nhân 70 tuổi hoặc già hơn, mặc dù đã được điều trị.

  • Kỹ thuật kháng sinh đồ MIC
  • Kỹ thuật này nhằm mục đích xác định chính xác nồng độ nhỏ nhất của kháng sinh có tác dụng ức chế sự phát triển của một chủng vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy (phương pháp định lượng).


  • Thường quy kỹ thuật chuẩn đoán bệnh lao
  • Kỹ thuật ELISA sử dụng kháng thể đặc hiệu để xác định kháng nguyên – tác nhân gây bệnh trong nuôi cấy sớm hoặc trực tiếp trong bệnh phẩm bệnh nhân và ngược lại, sử dụng kháng nguyên đã biết để phát hiện kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh hoặc dịch tiết của cơ thể bệnh nhân, qua đó đánh giá được tình trạng nhiễm bệnh của cơ thể.

  • Thường qui kỹ thuật Haemophilus Influenzae
  • H.influenzae là vi khuẩn thuộc tộc Haemophilus, được phát hiện lần đầu trong bệnh phẩm đờm của một bệnh nhân viêm phổi ở vụ dịch cúm năm 1892 bởi Robert Pfeifer. Tên vi khuẩn là sự kết hợp của đặc tính phát triển cần các yếu tố có ở máu (haemophilus: ưa máu) và có mối liên quan lịch sử với cúm (influenzae) của vi khuẩn.
Hội Y học Dự phòng Việt Nam

Tạp chí Y học Dự phòng

Trung tâm Dịch vụ KHKT và YTDP
Quảng cáo